Sign In

Chuyên đề “Dấu ấn các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam” (Phần 1)

09:00 10/01/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Chuyên đề "Dấu ấn các kỳ đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam” bao gồm những nội dung cốt lõi trong chủ trương, đường lối lãnh đạo cách mạng, những quyết sách chiến lược cùng những bài học kinh nghiệm quý giá trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng trong hơn 95 năm qua, đồng thời lan tỏa tinh thần tự hào, vững tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai các cường quốc năm châu trong kỷ nguyên mới. Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường trân trọng giới thiệu các nội dung trong chuyên đề “Dấu ấn các kỳ đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam” do Vụ Thông tin - Đối ngoại, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương biên soạn.

 

1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng (1935): Khôi phục tổ chức, thống nhất các phong trào đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng

Ngay từ khi ra đời (03/02/1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã thống nhất tổ chức, phát động và lãnh đạo các phong trào cách mạng trong phạm vi cả nước, với đỉnh cao là Xôviết Nghệ - Tĩnh. Tuy nhiên, phong trào cách mạng 1930 - 1931 bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt, khiến phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống.

Đại hội lần thứ nhất của Đảng: Khôi phục tổ chức, thống nhất các phong trào đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Ảnh: Theo TTXVN

Trong những năm 1932 - 1935, các đảng viên còn lại đã tích cực hoạt động, kiên trì chắp nối cơ sở, bí mật hoạt động khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng, gây dựng lại phong trào. Những cán bộ Đảng Cộng sản Đông Dương hoạt động ở nước ngoài được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản, cũng tích cực hoạt động khôi phục phong trào cách mạng, xây dựng lại hệ thống tổ chức Đảng. Tháng 3-1934, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, đóng vai trò “người lãnh đạo, người tổ chức” phong trào cách mạng ở Đông Dương. Đến đầu năm 1935, hệ thống tổ chức Đảng trong nước đã được phục hồi, phong trào cách mạng từng bước phát triển.

Sự khôi phục và phát triển của phong trào cách mạng Đông Dương, vừa tạo các điều kiện, vừa đặt ra yêu cầu cấp bách về tiến hành Đại hội Đảng để đề ra đường lối, xây dựng lại cơ quan lãnh đạo Trung ương, kịp thời lãnh đạo phong trào cách mạng, trong bối cảnh tình hình thay đổi nhanh chóng.

Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng họp từ ngày 27 - 31/3/1935, tại một địa điểm ở phố Quan Công - Ma Cao (Trung Quốc). Tham dự Đại hội có 13 đại biểu thuộc các đảng bộ trong nước và tổ chức của Đảng hoạt động ở nước ngoài đại diện cho 552 đảng viên trong toàn Đảng. Đại hội đã thảo luận và thông qua Luận cương Chính trị và 12 nghị quyết quan trọng: các nghị quyết về vận động công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh lính; nghị quyết về mặt trận phản đế, nghị quyết về đội tự vệ, về công tác trong các dân tộc thiểu số,...; 6 bản điều lệ (Điều lệ của Đảng Cộng sản, điều lệ của các tổ chức quần chúng của Đảng), một số văn kiện khác và Thư gửi Chấp ủy Quốc tế Cộng sản, gửi các Đảng Cộng sản Liên Xô, Ấn Độ, Xiêm. Tuyên ngôn của Đại hội gửi những người lao động trong nước[1].

Luận cương chính trị của Đại hội đã đánh giá khái quát tình hình thế giới, tình hình Đông Dương và phong trào cách mạng, công tác tổ chức và lãnh đạo của Đảng; khẳng định, hệ thống tổ chức của Đảng đã được khôi phục; các cuộc đấu tranh của quần chúng do Đảng lãnh đạo có bước phục hồi, thúc đẩy tinh thần đấu tranh của quần chúng công nông.

Nghị quyết chính trị đề ra ba nhiệm vụ chính mà toàn Đảng phải tập trung thực hiện là: “a) Củng cố và phát triển Đảng. b) Thâu phục quảng đại quần chúng lao động. c) Chống đế quốc chiến tranh”[2]. Nghị quyết xác định nhiệm vụ của Đảng: “… trong công tác hằng ngày của mình, cần biết rằng nhiệm vụ nào là chính yếu để tập trung đại lực của mình vào đấy” [3].

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa I, gồm 13 đồng chí (9 chính thức và 4 dự bị). Ban Chấp hành Trung ương cử ra Ban Thường vụ, gồm 5 đồng chí, do đồng chí Lê Hồng Phong (Litvinốp) làm Tổng Bí thư.

Đại hội thông qua Điều lệ của Đảng Cộng sản Đông Dương, gồm 59 điều, qui định về tên Đảng, về tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ của đảng viên, về điều kiện vào Đảng, về tổ chức, nguyên tắc tổ chức của Đảng, về tài chính, về đảng đoàn và nhiệm vụ của đại biểu Đảng đối với tổ chức Thanh niên Cộng sản. Điều lệ quy định tên Đảng là Đảng Cộng sản Đông Dương, là phân bộ của Quốc tế Cộng sản.

Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng là một sự kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu thắng lợi căn bản của cuộc đấu tranh khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước; sự khôi phục và thống nhất phong trào cách mạng của các tầng lớp nhân dân; củng cố và làm sâu sắc hơn mối quan hệ quốc tế của Đảng.

Đại hội thể hiện bản lĩnh, trí tuệ của Đảng, đem lại cho toàn thể đảng viên và quần chúng nhân dân niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, chuẩn bị lực lượng đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ, chống nguy cơ chiến tranh và chủ nghĩa phát xít những năm 1936 - 1939; tạo tiền đề quan trọng cho thắng lợi của cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc 1939 - 1945, đưa đến thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951): Đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn

Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời chưa được bao lâu thì thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta. Trong bối cảnh đó, Đảng phát huy vai trò lãnh đạo, cầm quyền dẫn dắt và tổ chức toàn dân tiến hành công cuộc “kháng chiến - kiến quốc” thực hiện mục tiêu kháng chiến thắng lợi, đồng thời xây dựng chế độ dân chủ nhân dân. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đưa thế và lực của dân tộc ta đi lên, giành thế chủ động chiến lược, đẩy thực dân Pháp vào thế bị động. Những biến đổi của điều kiện lịch sử trong nước và quốc tế đến năm 1950 đòi hỏi Đảng phải bổ sung và phát triển đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và chính sách đối ngoại nhằm mục tiêu đưa cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi. Nhằm đáp ứng những yêu cầu trên, Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng được triệu tập.

Đại hội lần thứ II của Đảng diễn ra từ ngày 11 - 19/02/1951, tại xã Vinh Quang (sau là xã Kim Bình), huyện Chiêm Hóa (cũ), tỉnh Tuyên Quang. Dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho hơn 766.349[4] đảng viên trong toàn Đảng.

Đại hội chủ trương xây dựng ở mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia, một Đảng cách mạng thích hợp với hoàn cảnh cụ thể, để lãnh đạo cuộc kháng chiến từng nước đến thắng lợi hoàn toàn. Ở Việt Nam, Đại hội quyết định xây dựng Đảng Lao động Việt Nam. Kế thừa truyền thống của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Lao động Việt Nam đảm nhận sứ mệnh lịch sử trọng đại vừa tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân ta, vừa có nghĩa vụ giúp đỡ các Đảng cách mạng ở Lào và Campuchia đấu tranh thắng lợi.

Đại hội xác định khẩu hiệu chính của cách mạng Việt Nam là: “tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành thống nhất độc lập hoàn toàn, bảo vệ hoà bình thế giới”[5].

Đại hội đề ra hai nhiệm vụ chính của Đảng là: Đưa kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và tổ chức Đảng Lao động Việt Nam. Để hoàn thành những nhiệm vụ đó, Đại hội đề ra những chính sách và biện pháp tích cực: đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang về mọi mặt, củng cố và phát triển mặt trận dân tộc thống nhất, triệt để giảm tô, giảm tức, tịch thu ruộng đất của thực dân và Việt gian chia cho dân cày nghèo, bảo vệ nền kinh tế tài chính của ta, đấu tranh kinh tế với địch, tích cực giúp đỡ cuộc kháng chiến của Cao Miên và Lào, tiến tới thành lập Mặt trận thống nhất Việt - Miên - Lào,... Đối với công tác xây dựng Đảng, Đại hội xác định xây dựng Đảng Lao động Việt Nam là “một Đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng triệt để”; “đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn; lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến đến chủ nghĩa xã hội”[6].

Đại hội thông qua “Chính cương Đảng Lao động Việt Nam”, chỉ rõ: Cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, cho nên con đường tất yếu của nó là tiến lên chủ nghĩa xã hội. Từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến tiến lên xã hội xã hội chủ nghĩa là cả một quá trình lâu dài, và “đại thể trải qua ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất, nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành giải phóng dân tộc; giai đoạn thứ hai, nhiệm vụ chủ yếu là xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; giai đoạn thứ ba, nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội”[7]. Ba giai đoạn ấy không tách rời nhau mà mật thiết liên hệ xen lẫn với nhau. Nhưng mỗi giai đoạn có nhiệm vụ trung tâm. Chính cương cũng nêu rõ 15 chính sách lớn của Đảng để đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi và đặt cơ sở kiến thiết quốc gia. Đảng phải tập trung lực lượng vào việc lãnh đạo chiến tranh. Mọi chính sách khác như chính sách văn hoá giáo dục, chính sách tôn giáo, chính sách dân tộc, chính sách mặt trận,… đều phải hướng vào mục tiêu chung là “đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi” .

Điều lệ mới của Đảng Lao động Việt Nam gồm 13 chương và 71 điều, xác định rõ mục đích, tôn chỉ của Đảng là “phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, để thực hiện tự do, hạnh phúc cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và tất cả các dân tộc đa số, thiểu số ở Việt Nam”[8]; Đảng là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và xây dựng Đảng theo nguyên tắc một Đảng vô sản kiểu mới: lấy dân chủ tập trung làm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt căn bản của Đảng; phê bình, tự phê bình là quy luật phát triển của Đảng; phục vụ nhân dân là mục tiêu hoạt động của Đảng.

Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 19 ủy viên chính thức, và 10 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành đã cử ra Bộ Chính trị gồm có 07 ủy viên chính thức và một ủy viên dự khuyết. Đại hội bầu đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng. Tổng Bí thư là đồng chí Trường Chinh

Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng là một sự kiện trọng đại trong đời sống chính trị của đất nước, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Đảng về mọi mặt. Đại hội đã tổng kết một bước quan trọng trong lý luận cách mạng Việt Nam, xác định đường lối tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội; công khai tuyên bố Việt Nam là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á, một bộ phận của phe dân chủ trên thế giới. Đường lối đúng đắn mà Đại hội đề ra chính là sự bổ sung, phát triển Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Đó là “đại hội đẩy kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam”[9].

3. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960): Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà

Mười năm sau Đại hội lần thứ II (1951), đất nước ta có nhiều thay đổi lớn. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi vẻ vang nhưng đất nước bị chia cắt làm hai miền: miền Bắc được giải phóng, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, miền Nam nằm dưới ánh thống trị của chủ nghĩa thực dân mới do đế quốc Mỹ và tay sai thiết lập. Đảng ta từ trách nhiệm lãnh đạo một chiến lược cách mạng trong cả nước chuyển sang lãnh đạo hai chiến lược cách mạng trong một nước. Cách mạng Việt Nam đang tiến mạnh trong giai đoạn mới của hai cuộc cách mạng và đang đi vào những bước ngoặt, nảy sinh nhiều vấn đề mới, đòi hỏi Đảng phải khẳng định đường lối chiến lược, bước đi chính sách và kiện toàn sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu mới của đất nước.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp từ ngày 05 - 10/9/1960, tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước. Hồ Chí Minh- Chủ tịch Đảng, đọc diễn văn khai mạc, trong đó nêu rõ: “Đại hội lần này là đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà”[10].

Đại hội xác định nhiệm vụ của toàn dân ta trong giai đoạn trước mắt là: “tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một đất nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông - Nam Á và thế giới”[11].

Cách mạng ở hai miền đều nhằm mục tiêu chung là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước, có mối quan hệ khăng khít. Trong đó, nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà. Cách mạng miền Nam có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Đối với miền Bắc, Đại hội khẳng định: Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc trước hết phải biến miền Bắc thành căn cứ vững chắc cho cách mạng cả nước, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là một quá trình cải biến cách mạng về mọi mặt nhằm đưa miền Bắc từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, từ chế độ sản xuất nhỏ tiến lên chế độ sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, từ tình trạng kinh tế phân tán và lạc hậu xây dựng thành một nền kinh tế cân đối và hiện đại, làm cho miền Bắc tiến bộ nhanh chóng, thành cơ sở ngày càng vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước. Muốn cải biến tình trạng kinh tế lạc hậu của nước ta, không có con đường nào khác ngoài con đường công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa.

 Đối với cách mạng miền Nam, “Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng ở miền Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, góp phần xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng ở miền Nam là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, các quyền tự do dân chủ và cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông - Nam Á và thế giới”[12].

Đại hội nêu cao quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân đối với sự nghiệp đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước; nhất định nước ta sẽ thống nhất, dân tộc ta sẽ đoàn tụ. Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt, phải củng cố và tăng cường sự nhất trí về tư tưởng và sự thống nhất hành động của Đảng.

Đại hội thông qua Điều lệ Đảng (sửa đổi) phù hợp công tác xây dựng đảng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà; phù hợp với tính chất một đảng cầm quyền, có hai nhiệm vụ chiến lược. Theo đó, phải ra sức củng cố Đảng vững mạnh về tư tưởng và tổ chức, phải giữ vững và không ngừng tăng cường tính chất giai cấp và tính chất tiên phong của Đảng để nâng cao hơn nữa sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng, bảo đảm cho Đảng có đầy đủ khả năng quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế và văn hoá, xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Điều lệ Đảng bổ sung một số điểm mới rất quan trọng trong tiêu chuẩn đảng viên.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 47 ủy viên chính thức và 31 ủy viên dự khuyết; Bộ Chính trị gồm 11 ủy viên và 02 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Hồ Chí Minh được bầu lại làm Chủ tịch Đảng. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III có ý nghĩa lịch sử to lớn, “là nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn Đảng và toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”[13].

4. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (1976): Đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội

Sau 15 năm thực hiện đường lối Đại hội lần thứ III của Đảng, Nhân dân ta đã giành được thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối, mở ra kỷ nguyên đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đất nước chuyển trạng thái, từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ chia cắt thành thống nhất, bên cạnh những thuận lợi rất cơ bản, phải đối diện những khó khăn, thử thách to lớn. Tình hình đó đặt ra yêu cầu tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; xác định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới; đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước của Nhân dân và các đoàn thể quần chúng trong giai đoạn Nhân dân ta đã làm chủ toàn bộ đất nước.

Từ ngày 14 - 20/12/1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV họp tại Hà Nội. Dự Đại hội có 1.008 đại biểu thay mặt cho hơn một triệu rưỡi đảng viên trong cả nước.

Đại hội khẳng định thắng lợi vẻ vang và đúc kết những bài học có giá trị to lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nghị quyết Đại hội khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”[14].

Đại hội đề ra đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới là: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”1.

Trên cơ sở đường lối chung, Đại hội đề ra đường lối xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới ở Việt Nam, trong đó, nội dung trọng tâm là đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

Trên cơ sở đường lối chung và đường lối kinh tế, Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 1976 - 1980 nhằm hai mục tiêu cơ bản là: Xây dựng một bước cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, bước đầu hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước mà bộ phận chủ yếu là cơ cấu công - nông nghiệp và cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân lao động.

Đại hội đề ra nhiệm vụ và chính sách đối ngoại; góp phần vào việc tăng cường đoàn kết các nước xã hội chủ nghĩa, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; ra sức bảo vệ và phát triển quan hệ gắn bó giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia; góp phần vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Đại hội đề ra đường lối xây dựng Đảng để Đảng đủ năng lực lãnh đạo trên cả ba mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức; thông qua phong trào cách mạng của quần chúng; gắn công tác xây dựng Đảng với kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực của Nhà nước. Điều lệ mới do Đại hội thông qua thể hiện một cách đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; qui định thời gian Đại hội toàn quốc và nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Trung ương là 5 năm; thời gian Đại hội đảng bộ các cấp tỉnh, huyện, quận và nhiệm kỳ của các cấp ủy cùng cấp là 2 năm; thời gian Đại hội ở chi bộ, Đảng bộ cơ sở và nhiệm kỳ của các cấp ủy cùng cấp là 1 năm; quy định về việc lập Đảng đoàn trong các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước, các đoàn thể và tổ chức quần chúng. Điều lệ mới đặt lại chức danh Tổng Bí thư thay cho chức danh Bí thư thứ nhất.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 101 ủy viên chính thức và 32 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ nhất bầu ra Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội quyết định đổi tên Đảng Lao Động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đại hội lần thứ IV của Đảng có ý nghĩa lịch sử to lớn, là Đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc, là Đại hội đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục khẳng định con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhân dân ta đã lựa chọn; vạch ra đường lối chung đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đảng được củng cố về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

5. Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (1982): Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của Nhân dân

Sau hơn 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần IV của Đảng, Nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và làm nghĩa vụ quốc tế. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, trong đó nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, hậu quả chiến tranh rất nặng nề, chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ, phải thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam, thiên tai dồn dập…, nhưng chủ yếu là do duy ý chí trong đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội, duy trì cơ chế quản lý kinh tế - xã hội vốn được xác lập và vận hành trong chiến tranh, không phù hợp với tình hình mới, nên đất nước bắt đầu lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội. Đảng đã đề ra những chủ trương tháo gỡ khó khăn, tạo ra những chuyển biến tích cực, tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước vẫn trong tình trạng khủng hoảng có xu hướng ngày càng trầm trọng.

Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V tiến hành để đề ra các phương hướng, biện pháp tháo gỡ khó khăn, đưa công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đi lên. 

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng diễn ra tại Thủ đô Hà Nội trong thời gian từ ngày 27 - 31/3/1982. Tham dự Đại hội có 1.033 đại biểu thay mặt cho hơn 1,7 triệu đảng viên toàn Đảng.

Đại hội khẳng định những thành tựu đã đạt được từ sau ngày miền Nam giải phóng; đồng thời nhìn nhận nền kinh tế đất nước “đang đứng trước nhiều vấn đề gay gắt”, mất cân đối nghiêm trọng, sản xuất phát triển chậm trong khi số dân tăng nhanh; lương thực, vải mặc và các hàng tiêu dùng thiết yếu đều thiếu, tình hình cung cấp năng lượng, vật tư, tình hình giao thông vận tải rất căng thẳng,… Đại hội nhất trí rằng những hạn chế trên có những nguyên nhân khách quan, chủ quan,  nhấn mạnh nguyên nhân chủ yếu là khuyết điểm, sai lầm về lãnh đạo và quản lý  kinh tế- xã hội của các cơ quan Đảng và Nhà nước ta từ Trung ương đến cơ sở. Nghị quyết Đại hội xác định: “Chúng ta đã duy trì quá lâu cơ chế quản lý hành chính quan liêu, bao cấp, chậm thay đổi các chính sách, chế độ kìm hãm sản xuất. Trong hoạt động sản xuất và quản lý kinh tế, tư tưởng ỷ lại rất nặng”[15]; những khuyết điểm, sai lầm là “rất nghiêm trọng”.

Đại hội đề ra hai nhiệm vụ chiến lược của toàn dân, toàn quân ta trong giai đoạn cách mạng mới: “Một là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội; Hai là, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[16]. Cùng với việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược, phải luôn tăng cường tình đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa.

Đại hội khẳng định, tiếp tục thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa do Đại hội lần thứ IV của Đảng đề ra. Đại hội đề ra 4 mục tiêu kinh tế - xã hội tổng quát của những năm 80 và xác định những chính sách lớn để thực hiện. Trong đường lối của Đại hội, nổi lên những tư duy mới, bám sát hơn thực tiễn đời sống là: coi ổn định tình hình kinh tế - xã hội là nhiệm vụ bức thiết nhất; xác định duy trì nền kinh tế nhiều thành phần ở miền Nam; nhận thức mới về công nghiệp hóa trên cơ sở  nhấn mạnh nông nghiệp là mặt trận hàng đầu trong chặng đường trước mắt; nhận thức mới về thời kỳ quá độ, phân kỳ thời kỳ quá độ và xác định chặng đường trước mắt ở Việt Nam; nhận thức mới về hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như làm rõ mối quan hệ của 2 nhiệm vụ đó.

Đại hội chủ trương “Nâng cao sức chiến đấu của Đảng”, tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, trong đó, đặc biệt coi trọng lãnh đạo kinh tế, tăng cường nâng cao chất lượng lãnh đạo tư tưởng, tăng cường lãnh đạo tổ chức, tổ chức tốt công tác kiểm tra.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương, nhiệm kỳ khóa V, gồm 152 đồng chí, trong đó có 116 ủy viên chính thức và 36 ủy viên dự khuyết. Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương khóa V bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên chính thức, 2 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu lại làm Tổng Bí thư.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đường lối do Đại hội đề ra đã tập trung vào giải quyết những vấn đề bức thiết của đất nước, phản ánh những tư duy đổi mới của Đảng đang được hình thành, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao cả và quyết tâm của Đảng tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của Nhân dân. 

Nguồn: Vụ Thông tin - Đối ngoại, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương

(Còn nữa)

Ban Biên tập

Ý kiến

Đảng ủy Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai đợt cao điểm tuyên truyền Đại hội XIV của Đảng

Ngày 9/1, Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Công văn số 272-CV/ĐU về việc triển khai đợt cao điểm tuyên truyền Đại hội XIV của Đảng.
Chuyên đề “Dấu ấn các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam” (Phần 3)

Chuyên đề “Dấu ấn các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam” (Phần 3)

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng diễn ra từ ngày 12 - 19/01/2011 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có 1.377 đại biểu thay mặt cho hơn 3,6 triệu đảng viên toàn Đảng.
Chuyên đề “Dấu ấn các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam” (Phần 2)

Chuyên đề “Dấu ấn các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam” (Phần 2)

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 15 - 18/12/1986. Dự Đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng.