Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 15 - 18/12/1986. Dự Đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng.
6. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986): Khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước
Sau Đại hội V, mặc dù Đảng và Nhân dân ta có nhiều nỗ lực nhưng mục tiêu do Đại hội đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống của Nhân dân chưa thực hiện được. Đời sống kinh tế - xã hội đất nước ở trong tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Tình hình thế giới có những biến đổi căn bản, to lớn, sâu sắc và rất phức tạp: khoa học, công nghệ, xu thế toàn cầu hoá phát triển mạnh mẽ; chiến tranh lạnh đi vào giai đoạn kết thúc, hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển trở thành một xu thế lớn. Trong khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào khủng hoảng nhiều mặt, thì công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc đạt được những kết quả tích cực.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Ảnh tư liệuCuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trong nước, sự biến đổi của tình hình thế giới và khu vực đã đặt ra yêu cầu khách quan, cấp bách phải đổi mới đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, tiếp tục quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 15 - 18/12/1986. Dự Đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng.
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, khẳng định những thành tựu đạt được, đồng thời, chỉ rõ hạn chế, yếu kém, những khó khăn gay gắt của đời sống kinh tế - xã hội đang ở mức độ khủng hoảng nghiêm trọng. Đại hội chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế nói trên là do Đảng mắc phải “những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài”[17] về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện, nhất là trên lĩnh vực kinh tế. Những sai lầm đó có nguồn gốc từ bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan.
Đại hội tổng kết 4 bài học lớn, trong đó nhấn mạnh bài học “lấy dân làm gốc”, bài học về xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan,…
Đại hội xác định: “nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo”[18].
Để đạt được những mục tiêu đã xác định, Đại hội đề ra đường lối đổi mới với những nội dung sau:
- Đổi mới cơ cấu kinh tế: sắp xếp lại nền kinh tế, bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, tập trung “thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”[19]; có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế ngoài kinh tế xã hội chủ nghĩa; phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo.
- Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế: kiên quyết xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng “cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ”[20]; kết hợp kế hoạch hóa với thị trường, từng bước đưa nền kinh vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Nền kinh tế phải được quản lý bằng các biện pháp kinh tế là chủ yếu. Các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, tự chủ về tài chính; phải “phân biệt rõ chức năng quản lý hành chính - kinh tế của các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương với chức năng quản lý sản xuất - kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở”[21].
- Đổi mới, thực hiện đồng bộ và hiệu quả các chính sách xã hội: Ban hành các chính sách xã hội cơ bản, lâu dài và xác định những nhiệm vụ, mục tiêu phù hợp với yêu cầu và khả năng trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ. Chú trọng phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất.
Đổi mới chính sách đối ngoại, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Phát triển và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương; tiến tới bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc; mở rộng hợp tác đầu tư với nước ngoài thông qua việc công bố chính sách khuyến khích đầu tư dưới nhiều hình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu; tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và Việt kiều hợp tác kinh doanh tại Việt Nam.
Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng phải đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; nâng cao nhận thức lý luận, vận dụng đúng qui luật khách quan, khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí hoặc bảo thủ trì trệ, quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”; đổi mới tổ chức, đội ngũ cán bộ, đánh giá cán bộ phải lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị làm thước đo; đổi mới phong cách làm việc, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tiến hành sửa đổi cải cách lề lối làm việc, đi sâu đi sát thực tế, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở, tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng. Đại hội quyết định bổ sung và sửa đổi một số điểm cụ thể trong Điều lệ Đảng cho phù hợp với tình hình mới.
Đại hội lần thứ VI của Đảng bầu Ban Chấp hành Trung ương mới gồm 124 ủy viên chính thức và 49 ủy viên dự khuyết. Hội nghị Trung ương lần thứ nhất bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên chính thức và 1 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội VI của Đảng có một ý nghĩa lịch sử trọng đại, đánh dấu bước ngoặt trong tiến trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Đại hội đã tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng kéo dài, đồng thời, đặt nền tảng căn bản để Đảng bổ sung, phát triển mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đường lối đổi mới do Đại hội đề ra là sự kết tinh trí tuệ, tư duy khoa học của Đảng và toàn dân, thể hiện quyết tâm và tinh thần trách nhiệm rất cao của Đảng trước đất nước và dân tộc. Đường lối đổi mới đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, đưa đến luồng sinh khí mới trong xã hội, làm xoay chuyển tình hình, đưa đất nước tiến lên.
7. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991): Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa
Đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình quốc tế và khu vực hết sức phức tạp, tác động mạnh mẽ, sâu sắc, bất lợi nhiều mặt đến Việt Nam. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, của xu thế toàn cầu hóa, một mặt tạo cơ hội phát triển cho tất cả các quốc gia, đồng thời, đặt ra những thách thức lớn. Xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, xung đột về sắc tộc và tôn giáo, các hoạt động can thiệp, bạo loạn lật đổ, khủng bố xảy ra ở nhiều nơi.
Ở trong nước, đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra đã đi vào cuộc sống tạo nên sự chuyển biến rõ rệt trên các lĩnh vực đời sống xã hội, đưa đến những thắng lợi bước đầu nhưng có ý nghĩa rất quan trọng. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội vẫn diễn biến phức tạp; các thế lực phản động ra sức lợi dụng những khó khăn của nước ta, dùng nhiều thủ đoạn phá hoại công cuộc đổi mới.
Tình hình trên đặt ra cho Đảng phải khẳng định và phát triển đường lối đổi mới, hình thành rõ nét con đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đề ra đường lối, chủ trương thúc đẩy, công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, ngăn chặn những ảnh hưởng bất lợi từ sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô.
Đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 24 - 27/6/1991. Dự Đại hội có 1.176 đại biểu, đại diện cho hơn 2,1 triệu đảng viên của Đảng.
Với tinh thần “Trí tuệ - Đổi mới - Dân chủ - Kỷ cương - Đoàn kết”[22], Đại hội tiến hành đánh giá kết quả bước đầu của công cuộc đổi mới và đề ra những phương hướng nhiệm vụ chủ yếu trong những năm trước mắt. Đại hội đánh giá: công cuộc đổi mới đã đạt những thành tựu bước đầu quan trọng, chứng tỏ đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra là đúng đắn, bước đi của công cuộc đổi mới về cơ bản là phù hợp; đất nước có những thuận lợi mới, đồng thời đang đứng trước những thử thách rất gay gắt, chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và vẫn có những nhân tố có thể gây mất ổn định chính trị không thể coi thường. Đại hội đúc kết năm bài học kinh nghiệm của bước khởi đầu tiến trình đổi mới: Giữ định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổi mới; Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để, nhưng phải có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp; Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước; Dân chủ có lãnh đạo; Kịp thời phát hiện và giải quyết đúng đắn những vấn đề mới nảy sinh, không ngừng hoàn chỉnh lý luận về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Đại hội đề ra mục tiêu tổng quát và phương châm chỉ đạo 5 năm 1991 - 1995 là vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa đất nước cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng. Trên cơ sở đó, Đại hội xác định các mục tiêu cụ thể và phương châm chỉ đạo trên các phương diện kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,…
Đại hội thảo luận và thông qua Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2000 cùng nhiệm vụ, giải pháp, chính sách đồng bộ để thực hiện.
Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh tổng kết tiến trình cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và nêu ra những bài học có tính quy luật đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân ta: Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Hai là, sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế; Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế; Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Cương lĩnh xác lập những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta xây dựng: Do Nhân dân lao động làm chủ; Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
Cương lĩnh nêu ra bảy phương hướng cơ bản của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội với mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù hợp, làm cho Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh; quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường. Mục tiêu của chặng đường đầu là thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau.
Cương lĩnh cũng đề ra những định hướng lớn về chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại; hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng, nhấn mạnh: Để đảm đương vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; phải thường xuyên, tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo, giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng,…
Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa VII gồm 146 đồng chí. Hội nghị Trung ương lần thứ nhất, bầu Bộ Chính trị gồm 13 đồng chí. Đồng chí Đỗ Mười được bầu là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội VII có ý nghĩa quan trọng, tiếp tục khẳng định, bổ sung và phát triển đường lối đổi mới, hoạch định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm Việt Nam, đề ra những chủ trương, giải pháp cụ thể đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội. Cương lĩnh do Đại hội thông qua là ngọn cờ chiến đấu dẫn dắt sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng trong giai đoạn tiếp theo.
8. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996): Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội
Trong những thập niên cuối thế kỷ XX, tình hình thế giới tiếp tục biến đổi nhanh chóng, sâu sắc, khó lường, có cả thuận lợi và khó khăn, tạo ra cả thời cơ và nguy cơ đối với các nước đang phát triển, nhất là trong giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, trong phát triển và hội nhập quốc tế. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương phát triển năng động với nhịp độ tăng trưởng cao, đồng thời cũng tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây mất ổn định.
Ở trong nước, sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện (1986 -1995) và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII (1991 - 1995), đất nước đã vượt qua một giai đoạn thử thách gay go; không những đứng vững, mà còn vươn lên thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng. Tuy nhiên, đất nước còn đối diện với thách thức, nổi lên là bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (01/1994) đã nêu[23].
Tình hình trên đây đặt ra yêu cầu đối với Đảng và Nhân dân ta là phát huy kết quả đạt được, khắc phục khó khăn, khuyết điểm và yếu kém, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, đưa sự nghiệp đổi mới đi lên.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng họp từ ngày 28/6 - 01/7/1996. Dự Đại hội có 1.196 đảng viên đại diện cho gần 2 triệu 130 nghìn đảng viên trong toàn Đảng.
Đại hội thảo luận và khẳng định những thành tựu và chỉ rõ những khuyết điểm, yếu kém của chặng đường 10 năm đổi mới, rút ra 6 bài học chủ yếu với những nội dung cơ bản là: Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm; Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; Mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của cả dân tộc; Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại; Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt.
Đại hội đánh giá tổng quát chặng đường 10 năm đổi mới và quyết định chuyển đất nước sang một thời kỳ phát triển mới. Đại hội khẳng định: “Công cuộc đổi mới trong 10 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng (…) Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặt còn chưa vững chắc. Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã được hoàn thành về cơ bản, nước ta chuyển sang một thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”[24].
Đại hội thảo luận và nhất trí đề ra mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là: “biến đổi nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của sức sản xuất, nguồn lực con người được phát huy, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng và an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”[25].
Đại hội thảo luận và nhất trí đề ra nhiệm vụ và mục tiêu phát triển đến năm 2000: tập trung đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu để tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững, giải quyết những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, cải thiện đời sống của Nhân dân, nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ XXI.
Đại hội chỉ rõ định hướng phát triển các lĩnh vực chủ yếu: kinh tế; khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo; chính sách xã hội; quốc phòng và an ninh; chính sách đối ngoại; thực hiện đại đoàn kết dân tộc, phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân; cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đại hội đề ra nhiệm vụ xây dựng Đảng ngang tầm đòi hỏi của thời kỳ mới với những nội dung cơ bản: giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân; nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất và năng lực cán bộ, đảng viên; củng cố Đảng về tổ chức, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ; nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; đổi mới công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng.
Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII) gồm 170 đồng chí. Hội nghị lần thứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII bầu Bộ Chính trị gồm 19 đồng chí. Đồng chí Đỗ Mười được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng có ý nghĩa lịch sử to lớn đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, chuyển đất nước sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
9. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001): Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Bước vào năm đầu thế kỷ XXI, tình hình thế giới diễn biến phức tạp với nhiều yếu tố bất ổn đan xen. Quá trình toàn cầu hóa tiếp tục mở rộng, khoa học công nghệ có sự phát triển mạnh mẽ, xu thế hòa bình, hợp tác chuyển biến tích cực,… song bên cạnh đó, các mâu thuẫn địa - chính trị, xung đột khu vực và nguy cơ khủng bố quốc tế có chiều hướng gia tăng. Những bất ổn và dấu hiệu suy giảm của đời sống kinh tế thế giới bắt đấu xuất hiện cuối thập niên 1990, khiến cục diện quốc tế tiềm ẩn nhiều phức tạp khó dự báo. Sau 15 năm đổi mới, thế và lực của đất nước đã lớn mạnh, có sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tế được tăng cường. Tuy nhiên, công cuộc đổi mới vẫn phải đối diện với 4 nguy cơ lớn; nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, một số vấn đề xã hội bức xúc và gay gắt,…
Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 19 - 22/4/2001. Tham dự Đại hội có 1.168 đại biểu thay mặt cho gần 2 triệu rưỡi đảng viên toàn Đảng.
Tại thời điểm khởi đầu thế kỷ XXI, Đại hội tổng kết và khẳng định ba thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX, nhận định tình hình đất nước và dự báo xu thế phát triển trong thế kỷ XXI; tổng kết những bài học có tính chất lý luận của 15 năm đổi mới, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội làm cơ sở để Đảng bổ sung, phát triển đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Đại hội chủ trương: phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đại hội xác định mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”[26], thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức, do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội.
Đại hội đề ra đường lối kinh tế, tập trung vào nhiệm vụ là: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh.
Cùng với đường lối kinh tế, Đại hội xác định đường lối lãnh đạo đối với các lĩnh vực: Phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Tăng cường quốc phòng và an ninh; Mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; Đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế; Xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đại hội khẳng định: phải coi xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ then chốt, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của Đảng, là nhân tố bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đại hội thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 với mục tiêu tổng quát là: Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của Nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao.
Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) gồm 150 ủy viên. Tại Hội nghị lần thứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 15 ủy viên. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội lần thứ IX của Đảng đã thể hiện rõ nét trí tuệ, bản lĩnh chính trị, sự đoàn kết, dân chủ, đánh dấu bước trưởng thành của Đảng trước những yêu cầu mới của sự nghiệp đổi mới. Đường lối, chiến lược, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội do Đại hội xác lập mở đường cho đất nước ta nắm lấy cơ hội, vượt qua thách thức đẩy mạnh phát triển đất nước trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI.
10. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006): Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển
Trong nửa đầu thập niên thứ nhất của thế kỷ XXI trên bình diện thế giới, toàn cầu hóa, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Khoa học và công nghệ có bước nhảy vọt và những đột phá lớn chưa từng có. Đan xen những xu hướng và những biến chuyển tích cực đó, đời sống quốc tế vẫn tiềm ẩn những phức tạp, khó lường.
Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước con người Việt Nam đã tiến những bước dài trên con đường xây dựng và phát triển. Sức mạnh về mọi mặt được tăng cường; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Tuy nhiên, đất nước cũng đối diện với nhiều khó khăn, hạn chế, bất cập. Việt Nam vẫn trong tình trạng kém phát triển. Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền gây bạo loạn ở Tây Nguyên năm 2001 và năm 2004. Nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ và lợi ích quốc gia rất quan trọng,…
Đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng một chiến lược, định hướng đúng đắn huy động tốt mọi nguồn lực sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển là yêu cầu và trách nhiệm nặng nề đặt ra đối với Đảng. Đó cũng là sứ mệnh của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội diễn ra từ ngày 18 - 25/4/2006, tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 1.176 đại biểu, đại diện cho hơn 3,1 triệu đảng viên trong toàn Đảng.
Tổng kết 20 năm đổi mới (1986 - 2006), Đại hội khẳng định: Hai mươi năm qua với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Ðất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp. “Nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản”[27]. Đại hội thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế trong công tác lãnh đạo của Đảng, những khó khăn, thử thách mà Nhân dân ta phải đối diện, nhất nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên,... Đại hội đúc kết bài học kinh nghiệm của 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới.
Đại hội đề ra mục tiêu, phương hướng tổng quát về phát triển kinh tế, xã hội của 5 năm 2006 - 2010; mục tiêu trực tiếp đến năm 2010 là “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”[28]. Trên có sở đó, Đại hội đề ra chủ trương: Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức; Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực; Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; Phát triển văn hóa, nền tảng tinh thần xã hội; Tăng cường quốc phòng và an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân; Phát huy dân chủ, tiếp tục hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Để chuẩn bị cho việc bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội tập trung bàn thảo để bổ sung các đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và bổ sung, phát triển nội dung các đặc trưng cũng như chuẩn hóa về diễn đạt và ngữ nghĩa các đặc trưng về xã hội xã hội chủ nghĩa.
Đại hội thông qua toàn văn Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã được bổ sung, sửa đổi. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa X gồm 160 ủy viên chính thức và 21 ủy viên dự khuyết. Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên. Đồng chí Nông Đức Mạnh tiếp tục được bầu giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam có một ý nghĩa to lớn. Đường lối, chiến lược, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn của Đại hội đã thúc đẩy sự năng động, sáng tạo và nỗ lực của toàn dân tộc đẩy mạnh mọi mặt công cuộc đổi mới mà mục tiêu là đưa đất nước sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển, vươn lên trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Nguồn: Vụ Thông tin - Đối ngoại, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
(Còn nữa)