Sign In

Chuyên đề “Dấu ấn các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam” (Phần 3)

10:05 10/01/2026

Chọn cỡ chữ A a  

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng diễn ra từ ngày 12 - 19/01/2011 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có 1.377 đại biểu thay mặt cho hơn 3,6 triệu đảng viên toàn Đảng.

 

11. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011): Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Sau 25 năm đổi mới, Đảng và Nhân dân ta đã thực hiện thành công chặng đường đầu của công cuộc đổi mới, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển đời sống Nhân dân có nhiều thay đổi tích cực, sức mạnh quốc gia được tăng cường, đất nước tích lũy được nhiều nguồn lực phát triển, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đứng trước những khó khăn, hạn chế không nhỏ ở trong nước cũng như những thách thức lớn, đan xen nhau và diễn biến rất phức tạp từ bên ngoài. Cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái toàn cầu (bùng nổ bắt đầu ở Mỹ năm 2008 - 2009) đã qua giai đoạn tồi tệ nhất nhưng phục hồi còn chậm và không vững chắc, có những ảnh hưởng bất lợi đến nước ta.

Đoàn Chủ tịch của Đại hội - Ảnh TTXVN

Tình hình trong nước, thế giới và những yêu cầu mới của công cuộc đổi mới đòi hỏi Đảng phải có những bổ sung, phát triển lý luận về đường lối đổi mới, cũng như đề ra những quyết sách để vượt qua khó khăn, tranh thủ thời cơ, hướng tới mục tiêu xây dựng nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. 

Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng diễn ra từ ngày 12 - 19/01/2011 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có 1.377 đại biểu thay mặt cho hơn 3,6 triệu đảng viên toàn Đảng.

Đại hội tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991 - 2011) và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2001 - 2010). Đại hội khẳng định: “Những thành tựu đạt được trong 20 năm thực hiện Cương lĩnh là to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước bước đầu thực hiện thành công công cuộc đổi mới, ra khỏi tình trạng kém phát triển, bộ mặt của đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi...”[29].

Đại hội đã thảo luận và đưa ra những quyết sách rất quan trọng, nhằm mở ra thời kỳ phát triển của đất nước và thực hiện mục tiêu cao cả, xây dựng Việt Nam thành đất nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển 2011). Cương lĩnh tổng kết những thắng lợi và những bài học chủ yếu của cách mạng Việt Nam; nêu bật quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam diễn ra trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc. Cương lĩnh xác định mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam với 8 đặc trưng: 1) Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; 2) Do nhân dân làm chủ; 3) Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; 4) Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 5) Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; 6) Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng; 7) Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; 8) Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Cương lĩnh nêu 8 phương hướng để xây dựng và phát triển đất nước, trong đó nhấn mạnh đến việc nắm vững và giải quyết các mối quan hệ lớn công cuộc đổi mới. Cương lĩnh xác định: “Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, phấn đấu xây dựng Việt Nam thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[30].

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển 2011) là bước phát triển mới cả về thực tiễn và nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, là ngọn cờ dẫn dắt sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ mới và bảo đảm cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đại hội thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, trong đó yêu cầu tập trung thực hiện ba đột phá chiến lược: Một là, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính. Hai là, phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Ba là, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn.

Đại hội đề ra mục tiêu và nhiệm vụ của 5 năm 2011 - 2015, tầm nhìn đến năm 2020, mà nội dung cơ bản tận dụng tốt thời cơ, vượt qua thách thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) gồm 200 ủy viên, với 175 ủy viên chính thức và 25 ủy viên dự khuyết. Tại Hội nghị lần thứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được bầu giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng có một ý nghĩa lịch sử to lớn, đánh dấu một bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội, mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội đề ra những định hướng chiến lược đúng đắn, có giá trị trước mắt và lâu dài thể hiện tầm nhìn chiến lược là cơ sở để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của Việt Nam.

12. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (2016): Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại  

Sau 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng và Nhân dân ta đã được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đất nước mang một diện mạo mới và một vị thế trên trường quốc tế. Tuy nhiên, công cuộc đổi mới của nhân dân ta cũng đối diện với nhiều khó khăn, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, có những bất lợi ảnh hưởng trực tiếp đến công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đặc biệt là diễn biến phức tạp trên Biển Đông,... công cuộc đổi mới đất nước cũng còn những hạn chế, yếu kém,... 

 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng họp từ ngày 20 - 28/01/2016, tại Hà Nội. Dự Đại hội có 1.510 đại biểu, thay mặt cho hơn 4,5 triệu đảng viên toàn Đảng.

Chủ đề của Đại hội là: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Đại hội đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của Đại hội XI và nhìn lại 30 năm đổi mới. Đại hội nhấn mạnh: “Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; đồng thời cũng còn nhiều vấn đề lớn, phức tạp, nhiều hạn chế, yếu kém cần phải tập trung giải quyết, khắc phục để tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn”[31]. “Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử[32]. Đại hội đã đúc kết 5 bài học kinh nghiệm lớn từ thực tiễn 30 năm đổi mới đất nước.

Đại hội đề ra mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu cho nhiệm kỳ 2016 - 2020, với những phương hướng lớn: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế, tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược; Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; Thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của Nhân dân; Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 200 đồng chí, trong đó 180 ủy viên chính thức, 20 ủy viên dự khuyết. Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 19 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng tiếp tục được bầu giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng là dấu mốc phát triển lý luận quan trọng về Đảng, hoạch định những chủ trương, nhiệm vụ về đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đáp ứng yêu cầu về vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng trong tình hình mới. Đại hội đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn làm cơ sở chính trị, định hướng cho mọi hoạt động đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế của Việt Nam trong những năm 2016 - 2020. Tại phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Thành công tốt đẹp của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cổ vũ mạnh mẽ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua khó khăn, thách thức, tranh thủ thời cơ, cơ hội mới, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

13. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (2021): Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, hướng đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Từ sau Đại hội lần thứ XII của Đảng, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thu được nhiều thành tựu mới về nhiều mặt, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, vị thế và uy tín đất nước ngày càng nâng cao trên trường quốc tế. Tuy nhiên, Việt Nam cũng phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách, đặc biệt, bắt đầu từ đầu năm 2020, chịu những tác động tiêu cực lớn từ đại dịch Covid-19. Thiên tai liên tiếp xảy ra ở các tỉnh miền Trung,...

Bình tĩnh trước khó khăn, thử thách, kiên định con đường đi lên, để củng cố những nguyên tắc phát triển, đề ra những chủ trương đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, vừa xây dựng những định hướng phát triển lâu dài, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng diễn ra từ ngày 25/01 - 01/02/2021 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có 1.587 đại biểu, đại diện cho 5,2 triệu đảng viên trong toàn Đảng.

Chủ đề của Đại hội là: Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. 

Đại hội đánh giá những kết quả đạt được trong những năm 2016 - 2020; đồng thời, chỉ rõ những thành tựu to lớn của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới. Đại hội khẳng định: lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[33]. 

Đại hội xác định mục tiêu phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, với các lộ trình và mục tiêu cụ thể, gắn với những dấu mốc quan trọng của dân tộc: Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Để đạt được mục tiêu trên, Đại hội quán triệt các quan điểm chỉ đạo: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi; Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện,…

Đại hội chủ trương tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các quan hệ lớn: giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội,…

Đại hội thông qua sáu nhiệm vụ trọng tâm và ba đột phá chiến lược cho giai đoạn 2021 - 2025.

Sáu nhiệm vụ trọng tâm là:

(1) Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, "lợi ích nhóm", những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Củng cố lòng tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

(2) Tập trung kiểm soát đại dịch COVID-19, tiêm chủng đại trà vắc-xin COVID-19 cho cộng đồng; phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, hội nhập; phát triển đồng bộ và tạo ra sự liên kết giữa các khu vực, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh; có chính sách hỗ trợ hiệu quả doanh nghiệp trong nông nghiệp; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tạo động lực để phát triển kinh tế nhanh và bền vững; hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật về bảo hộ sở hữu trí tuệ và giải quyết các tranh chấp dân sự, khắc phục những điểm nghẽn cản trở sự phát triển của đất nước.

(3) Giữ vững độc lập, tự chủ, tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước.

(4) Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế; có chính sách cụ thể phát triển văn hoá đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam.

(5) Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh; cải cách tư pháp, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trước hết là sự gương mẫu tuân theo pháp luật, thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa của cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội các cấp, của cán bộ, đảng viên; tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc.

(6) Quản lý chặt chẽ, sử dụng hợp lý, hiệu quả đất đai, tài nguyên; bảo vệ, cải thiện môi trường; chủ động, tích cực triển khai các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, thiên tai khắc nghiệt.

Ba đột phá chiến lược, gồm:

(1) Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, cạnh tranh hiệu quả. Tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài chính, hợp tác công - tư; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật.

(2) Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hoá, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

(3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội; ưu tiên phát triển một số công trình trọng điểm quốc gia về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu; chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) gồm 200 ủy viên, trong đó có 180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết. Hội nghị lần thứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 18 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng tiếp tục được bầu giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII là sự kiện chính trị trọng đại, đánh dấu bước phát triển của Đảng trong hoạch định đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội thể hiện tầm nhìn và khát vọng của Đảng và dân tộc nhằm phát huy mạnh mẽ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc chân chính, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam để xây dựng đất nước nhanh và bền vững hơn, vì một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

14. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (2026): Khởi đầu kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tổ chức vào tháng 01 năm 2026 là sự kiện chính trị quan trọng của Đảng, trọng đại của đất nước; là dấu mốc đặc biệt trên con đường phát triển, mở ra kỷ nguyên mới, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, “tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”. Đại hội diễn ra trong bối cảnh quốc tế, khu vực thay đổi nhanh, có nhiều bất ổn, bất định, diễn biến rất phức tạp, khó dự báo. Đất nước sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế đã được nâng lên một tầm cao mới. Đại hội xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930 - 2030); hiện thực hóa tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945 - 2045).

Để tập hợp trí tuệ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta vào hoạch định những quyết sách to lớn quyết định vị thế dân tộc trong tương lai, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) đã công bố Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV để lấy ý kiến rộng rãi đồng bào cả nước, người Việt Nam sinh sống, công tác, làm việc ở ngoài nước.

Dự thảo các văn kiện nêu rõ chủ đề của Đại hội XIV của Đảng là: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Dự thảo các văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 3 trụ cột nền tảng: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Dự thảo đề ra mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Để đạt mục tiêu theo lộ trình đã đề ra, dự thảo các văn kiện trình Đại hội đã xây dựng những đột phá mới hợp thành nền tảng để thúc đẩy đột phá, phát triển quốc gia trong giai đoạn tới.

Đó là bổ sung lý luận về đường lối đổi mới, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới là bộ phận quan trọng cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng; “bảo vệ môi trường” cùng với phát triển kinh tế, xã hội là nhiệm vụ “trung tâm”; xác định “đối ngoại, hội nhập quốc tế” được đặt ngang hàng với quốc phòng và an ninh, trở thành nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; khẳng định “thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là rất quan trọng”; ba đột phá chiến lược được tái cấu trúc: hoàn thiện thể chế phát triển nhanh, bền vững; phát triển nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học - công nghệ; và đầu tư đồng bộ hạ tầng, nhất là hạ tầng số, năng lượng và đô thị xanh.

Dự thảo xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; Khoa học, công nghệ và giáo dục là động lực chính của phát triển; Đặt văn hóa, con người ở vị trí trung tâm của phát triển, phát triển con người được đặt ở vị trí trung tâm của mọi chính sách; Thực hiện đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước mọi tình huống, nhất là chiến tranh công nghệ cao.

Dự thảo các văn kiện thể hiện điểm mới nổi bật trong nội hàm công tác xây dựng Đảng là nội dung “Đảng văn minh” - nhấn mạnh yêu cầu thích ứng thời đại, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền và kiểm soát quyền lực. Công tác cán bộ được triển khai đồng bộ ở cả cấp chiến lược và cơ sở, coi đội ngũ cơ sở là trung tâm của thực thi chính sách, trực tiếp gắn bó với Nhân dân.

Dự thảo nhấn mạnh dân là gốc, Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của mọi quyết sách phát triển. Mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của Nhân dân, lấy hạnh phúc, sự hài lòng của người dân làm thước đo thành công của phát triển. Dự thảo cũng đề ra những định hướng quan trọng về tăng cường củng cố và phát huy hiệu quả sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc,…

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước chuyển mới trong quá trình phát triển của đất nước. Đây là Đại hội định hình tư duy phát triển mang tính đột phá, xác lập các mục tiêu chiến lược trong bối cảnh thế giới biến động mạnh và yêu cầu đổi mới ngày càng cấp thiết. Với việc xác lập các định hướng lớn và khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng, tin tưởng Đại hội XIV trở thành dấu mốc định vị tầm nhìn, bản lĩnh và trách nhiệm lịch sử của Đảng đối với tương lai của dân tộc Việt Nam./.

 

 

[1] Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.5, tr.192-193.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.5, tr.23.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.5, tr.23.

[4] Xem Học viện Chính trị quốc gia, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, t. I (1930 - 1954), Quyển 2 (1945 - 1954), tr. 319.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.32-33.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.37.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12,tr. 435.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2001, t.12, tr.444.

[9] Xem Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, t. I (1930 - 1954), Quyển 2 (1945 - 1954), tr. 339.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t.21, tr 486.

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t.21, tr. 512.

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t.21, tr. 524.

[13] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t. 21, tr. 951.

[14] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2004, t. 37, tr. 471.

1  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2004, t. 37, tr.523-524.

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H,2005, t.43, tr.50.

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H,2005, t.43, tr.53.

[17]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t. 47, tr.360.

[18]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.376.

[19]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.381.

[20]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.398-399.

[21]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2006, t.47, tr.398.

[22] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2007, t.51, tr.9.

[23] Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới do điểm xuất phát thấp…; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chỉ đạo thực hiện; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác; âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”.

[24] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1996, tr.67-68.

[25] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1996, tr. 80.

[26] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2001, tr.86.

[27] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, H,2006, tr.68.

[28] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, H,2006, tr.23 

[29] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr.177.

[30] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr.71.

[31] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, tr. 65.

[32] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, tr. 66.

[33] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, t.1, tr. 25.

Nguồn: Vụ Thông tin - Đối ngoại, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương

Ban Biên tập

Ý kiến

Đảng ủy Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai đợt cao điểm tuyên truyền Đại hội XIV của Đảng

Ngày 9/1, Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành Công văn số 272-CV/ĐU về việc triển khai đợt cao điểm tuyên truyền Đại hội XIV của Đảng.
Chuyên đề “Dấu ấn các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam” (Phần 2)

Chuyên đề “Dấu ấn các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam” (Phần 2)

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 15 - 18/12/1986. Dự Đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt cho gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng.

Chuyên đề “Dấu ấn các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam” (Phần 1)

Chuyên đề "Dấu ấn các kỳ đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam” bao gồm những nội dung cốt lõi trong chủ trương, đường lối lãnh đạo cách mạng, những quyết sách chiến lược cùng những bài học kinh nghiệm quý giá trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng trong hơn 95 năm qua, đồng thời lan tỏa tinh thần tự hào, vững tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai các cường quốc năm châu trong kỷ nguyên mới. Đảng bộ Bộ Nông nghiệp và Môi trường trân trọng giới thiệu các nội dung trong chuyên đề “Dấu ấn các kỳ đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam” do Vụ Thông tin - Đối ngoại, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương biên soạn.